Tư Vấn Hôn Nhân – Ly Hôn Với Người Mất Tích Như Thế Nào?

“Xin chào luật sư, tôi có một vấn đề cần Luật sư tư vấn như sau: Cô tôi đã kết hôn, hai vợ chồng sau khi kết hôn đã chuyển đến nơi khác để sinh sống và sau quá trình chung sống khoảng 1 năm, người chồng của cô đã bỏ đi và không trở về sống với gia đình, đến nay đã gần 3 năm. Tôi với cô đi về nơi chú ấy đăng ký hộ khẩu thường trú ngày xưa để nộp đơn xin ly hôn với người mất tích thì được biết chú cũng thỉnh thoảng về quê nhưng không một ai biết hiện tại chú đang ở đâu và liên hệ như thế nào.

Theo quy định, tôi thấy rằng nếu không thể tìm thấy nơi cư trú hiện tại của chú, thì cô tôi có thể gửi đơn ly hôn đến nơi cư trú cuối cùng của chú hoặc nơi chú có sở hữu tài sản nhưng trong trường hợp này thì chú ấy lại không sở hữu tài sản nào tại nơi cư trú cuối cùng trước đây, nên khi nộp đơn xin ly hôn thì không được xử lý.

Vậy cho tôi hỏi phải làm thế nào để cô tôi có thể ly hôn khi tôi không thể tìm được chồng nhưng trường hợp này chú ấy không tính là mất tích? Xin cảm ơn Luật sư!”

Xem thêm: Tư Vấn Hôn Nhân – Án Phí Ly Hôn Thuận Tình – Đơn Phương

Luật sư DFC tư vấn ly hôn:

Chào bạn, tôi là Ngân, Luật sư tư vấn hôn nhân gia đình tại Công ty Luật DFC, với trường hợp cô bạn muốn ly hôn khi chồng mất tích thì tôi sẽ tư vấn như sau:

a. Đầu tiên, xác định nơi cư trú, tạm trú cuối cùng của chồng cô bạn

Tại khoản 1 điều 40 BLTT Dân sự 2015 đã có quy định, nếu không ai biết được nơi cư trú của chồng cô bạn thì cô bạn hoàn toàn có thể đề nghị Tòa án nơi chú ấy cư trú, tạm trú cuối cùng hoặc nơi chú ấy có tài sản đứng tên chú để thụ lý giải quyết vụ án.

Nơi cư trú cuối cùng là như thế nào? Tại điều 12 Luật cư trú 2006 có quy định, nơi cư trú là nơi chú ấy hiện đang cư trú, tạm trú, thường trú hiện tại, trong trường hợp không thể xác định được nơi tạm trú, thường trú của chú ấy thì nơi cư trú là nơi chú ấy hiện đang sinh sống và làm việc. Hiện tại thì chưa có quy định nào về nơi cư trú cuối cùng. Tuy nhiên có thể xác định trong trường hợp này, nơi cư trú cuối cùng của chú ấy được hiểu là nơi cư trú cuối cùng mà cô bạn biết được nơi sinh sống của chú ấy trước khi mất tích.

Chú ý:

  • Nếu người khởi kiện đã nêu đầy đủ và chính xác địa chỉ nơi cư trú của bị đơn, người có quyền và nghĩa vụ liên quan nhưng anh ta không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú và trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan có thẩm quyền hoặc người ở theo luật cư trú, khiến cho đương sự không thể biết để che giấu địa chỉ và trốn tránh nghĩa vụ với người khởi kiện, thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định bị đơn, người có quyền và nghĩa vụ liên quan cố tình che giấu địa chỉ và tiến hành để xử lý và giải quyết theo thủ tục chung.
  • Hướng dẫn tại Khoản 1, Điều 5 Nghị quyết số 04/2014/NQ-HDTP về địa chỉ của bị đơn, người có quyền và nghĩa vụ liên quan.
  • Trong trường hợp người khởi kiện đã chỉ rõ đầy đủ và đúng địa chỉ của bị đơn, người có quyền và nghĩa vụ liên quan theo hướng dẫn tại Điều 5 của Nghị quyết này, Tòa án phải nhận được đơn khởi kiện và xem xét và chấp nhận các vụ kiện theo thủ tục chung.

tư vấn ly hôn với người mất tích

b. Thứ 2, về điều kiện tuyên bố mất tích và ly hôn với với người mất tích

Trong trường hợp Tòa án không chấp nhận thụ lý đơn khởi kiện ly hôn với người mất tích của cô bạn, cô của bạn có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố chú ấy mất tích.

Theo khoản 1, Điều 68 BLDS 2015, khi một người mất tích từ 2 năm liên tiếp trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp sau:

Thông báo và tìm kiếm theo quy định của luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có thông tin đáng tin cậy về việc người đó còn sống hay đã chết, theo yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.

Đặc biệt, khoảng thời gian 02 năm được tính từ ngày biết thông tin cuối cùng về người đó:

  • Nếu không thể xác định được ngày mất tích, thì sẽ được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo sau tháng có thông tin cuối cùng;
  • Nếu không thể xác định được ngày, tháng mất tích, thì sẽ được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo sau năm có thông tin cuối cùng;

Do đó, cô của bạn có thể đưa ra “Yêu cầu về Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” theo Điều 381 của Bộ luật TTDS. Sau khi thông báo tìm kiếm một người vắng mặt tại nơi cư trú của họ, có thể được yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích nếu đáp ứng các điều kiện trên.

Theo đó, trong trường hợp vợ hoặc chồng của người mất tích tuyên bố ly hôn, Tòa án sẽ xử lý việc ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

Khoản 2, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định rằng trong trường hợp vợ / chồng của một người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn, Tòa án sẽ giải quyết việc ly hôn.

Vì vậy, sau khi Tòa án tuyên bố mất tích của chú ấy có hiệu lực pháp lý, Tòa án sẽ xem xét và giải quyết việc ly hôn cho cô của bạn.

Trên đây là phần tư vấn của tôi về trường hợp ly hôn khi chồng mất tích của cô bạn, nếu còn bất kỳ thắc mắc nào vui lòng liên hệ lại tôi qua Hotline tư vấn luật hôn nhân gia đình 19006512. Xin cảm ơn!

Xem thêm: Tư Vấn Tranh Chấp Quyền Nuôi Con Trên 7 Tuổi Khi Ly Hôn


Hãy liên hệ với Văn phòng Luật sư DFC chúng tôi
Adress: LK, 28 Lê Trọng Tấn, Dương Kinh, Hà Đông, Hà Nội
Phone: 1900.6512
Email: thunodfc@gmail.com hoặc luatsudfc@gmail.com

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*