Tội Bắt Giữ Người Trái Pháp Luật – Dấu Hiệu – Khung Hình Phạt

toi-bat-giu-nguoi-trai-phap-luat

Theo luật, hành vi bắt giữ người khác trái pháp luật đó là hành vi xâm phạm quyền tự do cá nhân của mỗi cá nhân và hành vi ngăn chặn tự do di chuyển của người khác. Nếu bất kỳ người nào thực hiện hành vi sử dụng vũ lực hoặc sử dụng các mánh khóe hoặc hành động để đe dọa hoặc kiểm soát người khác, giam giữ hoặc bắt giữ người khác, tước quyền tự do thể xác của người khác, người đó sẽ bị truy tố hình sự về Tội bắt giữ người trái pháp luật.

I. Các dấu hiệu cấu thành tội bắt giữ người trái pháp luật

1. Về mặt khách quan

  • Đối với tội bắt giữ người trái phép: Thể hiện trong hành vi kiểm soát người khác để tạm giữ hoặc giam giữ họ; Việc kiểm soát này có thể sử dụng vũ lực hoặc các biện pháp khác nhau như trói, còng tay sau đó thường là nạn nhân được đưa trở lại một nơi nhất định để giam giữ hoặc giam giữ;
  • Liên quan đến tội bắt giữ người trái phép:
    • Biểu hiện ở hành vi không cho người bị bắt đi bất cứ nơi nào ngoài tầm kiểm soát của người phạm tội như bị bắt trong nhà, bị buộc ngồi tại chỗ … trong một thời gian ngắn thường là ít hơn 24 giờ.
    • Nó được thể hiện thông qua hành vi nhốt người bị bắt vào một nơi trong một thời gian nhất định chẳng hạn như giam cầm trong phòng, trong nhà tù ….
  • Các dấu hiệu khác: Các hành vi bắt giữ, hoặc giam giữ người khác trái với pháp luật, là một dấu hiệu cấu thành cơ bản. Dấu hiệu trái pháp luật được thể hiện thông qua các đặc điểm sau:
    • Người không có thẩm quyền nhưng bắt giữ hoặc giam giữ người khác.
    • Người có thẩm quyền bắt giữ hoặc giam giữ người khác nhưng vẫn bắt giữ hoặc giam giữ người trái pháp luật, như: Không có lệnh bắt giữ, hoặc có lệnh bắt giữ không có biển bản về việc bắt người không có nhân chứng, tạm giam hoặc bắt giữ sai người…

Ngoài ra, nếu bắt giữ hoặc giam giữ trái phép một người dẫn đến thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân, người bắt giữ cũng phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạ. cố ý gây thương tích hoặc tổn hại đến sức khỏe của người khác.

Tuy nhiên, cần lưu ý: Trong trường hợp bắt giữ một người trái phép nhưng nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, hành vi này cấu thành tội bắt cóc để chiếm đoạt tài sản của người khác mà không cấu thành tội phạm này.

  • Hậu quả của tội phạm này thường gây ra cho nạn nhân dẫn đến tự sát, hoặc bị tra tấn bằng về thể xác, thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe … Tuy nhiên, kết quả không phải là dấu hiệu cấu thành cơ bản, nó chỉ có ý nghĩa trong việc định khung hình phạt hoặc phạt hành chính.
  • Mục đích của tội phạm này không phải là dấu hiệu bắt buộc, nhưng nếu nó tương ứng với dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội phạm khác, người thực hiện hành vi bắt giữ hoặc giam giữ người trái phép phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự cho tội phạm đó.
  • Trong trường hợp bắt giữ trái phép do thiếu trách nhiệm hoặc trình độ chuyên môn kém, người thực hiện hành vi đó không phạm lỗi cố ý và tất nhiên không có đủ yếu tố cấu thành tội phạm này.
  • Tội phạm hoàn thành kể từ khi người phạm tội thực hiện hành vi bắt giữ và giam giữ người trái phép.

2. Về mặt chủ quan

Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

3. Khách thể

Các tội phạm nêu trên vi phạm quyền tự do thân thể của công dân được pháp luật bảo vệ.

4. Chủ thể

Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

toi-bat-giu-nguoi-trai-phap-luat

II. Bắt giữ người trái pháp luật để đòi nợ

“Tôi đã vay 100 triệu đồng từ ông D để đầu tư trang trại nuôi lợn và cá. Nhưng mới đây có trận lũ nên nhà tôi và trang trại nhà tôi bị thiệt hại nặng nề, hiện không thể trả tiền cho ông D đúng hạn được. Hôm trước, ông D gọi tôi đến nhà ông ấy để nói chuyện, nhưng sau đó khi tôi vừa đến, ông ấy đã khóa cửa ngăn tôi chạy về và bảo tôi gọi vợ tôi đưa ông ấy 50 triệu trước thì mới thả tôi ra. Cho tôi hỏi, có phải việc ông D bắt tôi để đòi nợ là bất hợp pháp không? Tôi có thể kiện ông ấy không?”

Luật sư tư vấn hình sự:

Không ai sẽ bị bắt, trừ khi có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội. Việc bắt giữ và giam giữ một người phải tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Do đó, hành vi bắt giữ bạn tại nhà riêng của ông D là trái luật. Thẩm quyền quyết định bắt giữ người thuộc về Tòa án. Hành vi của ông D có thể bị truy tố hình sự vì bắt giữ, giam giữ hoặc giam giữ bất hợp pháp theo quy định tại Điều 157 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017:

Điều 157. Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật
1. Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 và Điều 377 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Đối với người đang thi hành công vụ;
d) Phạm tội 02 lần trở lên;
đ) Đối với 02 người trở lên;
e) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
g) Làm cho người bị bắt, giữ, giam hoặc gia đình họ lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn;
h) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:
a) Làm người bị bắt, giữ, giam chết hoặc tự sát;
b) Tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục nhân phẩm của người bị bắt, giữ, giam;
c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Bạn hoàn toàn có thể làm đơn tố cáo hành vi bắt giữ người trái phép đối với ông D lên cơ quan Công an để được xem xét và giải quyết. Khi bị truy cứu trách nhiệm hình sự về việc bắt giữ, giam giữ hoặc giam giữ bất hợp pháp, ông D có thể bị cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

III. Lợi dụng chức vụ để bắt, giữ người trái pháp luật

1. Mặt khách quan của tội phạm

Tội phạm này chỉ yêu cầu người phạm tội phải có các hành vi khách quan sau:

– Không đưa ra quyết định trả tự do cho người được thả theo quy định của pháp luật: là trường hợp người đó có đủ thẩm quyền và cơ sở pháp lý để ra quyết định thả người bị giam giữ hoặc giam giữ. nhưng không quyết định thả người.

– Không tuân thủ quyết định thả người được thả theo quy định của pháp luật: là trường hợp người chịu trách nhiệm thi hành quyết định thả người bị giam giữ đã không thi hành quyết định giải phóng tự do của cấp có thẩm quyền.

Đối tượng của tội phạm này là một người được thả ra theo quy định của pháp luật. Vì vụ án đã hết thời gian tạm giam, tạm giữ, ….

2. Mặt chủ quan của tội phạm

Việc lạm dụng các vị trí và quyền hạn để giam giữ và giam giữ những người bất hợp pháp được thực hiện với các lỗi cố ý. Động cơ phạm tội không đưa ra quyết định hoặc không thi hành quyết định thả người bị giam giữ hoặc giam giữ có thể khác nhau nhưng đây không phải là dấu hiệu của sự lên án.

3. Khách thể của tội phạm

Tội này vi phạm chức năng đúng đắn của cơ quan thi hành án, quyền và lợi ích của công dân.

4. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm này là một đối tượng đặc biệt. Ngoài việc đáp ứng các yêu cầu về độ tuổi (từ 16 tuổi trở lên) và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, người phạm tội của đối tượng này phải là người có chức năng và thẩm quyền bắt giữ hoặc trả tự do cho người bị giam giữ và người bị giam giữ như: Thủ trưởng và cấp phó trưởng viện kiểm sát nhân dân; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân, …

5. Khung hình phạt

Khung hình phạt đối với tội này được quy định tại Điều 377 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017:

Điều 377. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật
1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Không ra quyết định trả tự do cho người được trả tự do theo quy định của luật;
b) Ra lệnh, quyết định bắt, giữ, giam người không có căn cứ theo quy định của luật;
c) Không chấp hành quyết định trả tự do cho người được trả tự do theo quy định của luật;
d) Thực hiện việc bắt, giữ, giam người không có lệnh, quyết định theo quy định của luật hoặc tuy có lệnh, quyết định nhưng chưa có hiệu lực thi hành;
đ) Không ra lệnh, quyết định gia hạn tạm giữ, tạm giam hoặc thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giữ, tạm giam khi hết thời hạn tạm giữ, tạm giam dẫn đến người bị tạm giữ, tạm giam bị giam, giữ quá hạn.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Giam, giữ trái pháp luật từ 02 người đến 05 người;
b) Làm người bị giam, giữ trái pháp luật tổn hại về sức khỏe với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
c) Làm người bị giam, giữ hoặc gia đình họ lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn;
d) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:
a) Giam, giữ trái pháp luật 06 người trở lên;
b) Làm người bị giam, giữ trái pháp luật tổn hại về sức khỏe với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc chết;
c) Làm người bị giam, giữ tự sát;
d) Làm gia đình người bị giam, giữ ly tán.
4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Mọi thắc mắc của quý vị và các bạn vui lòng liên hệ đến Văn phòng Luật sư DFC chúng tôi qua địa chỉ bên dưới đây để được tư vấn một cách chính xác nhất về Luật Hình sự hiện hành.

Hãy liên hệ với Văn phòng Luật sư DFC chúng tôi
Adress: LK, 28 Lê Trọng Tấn, Dương Kinh, Hà Đông, Hà Nội
Phone: 1900.6512
Email: thunodfc@gmail.com hoặc luatsudfc@gmail.com

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*